tin tức

Các nhà sản xuất sơn phủ cho biết, sơn phủ pha loãng bằng nước là loại sơn phủ được điều chế từ nhũ tương, đóng vai trò là vật liệu tạo màng, trong đó nhựa gốc dung môi được hòa tan trong dung môi hữu cơ, sau đó, với sự trợ giúp của chất nhũ hóa, nhựa được phân tán trong nước bằng cách khuấy cơ học mạnh để tạo thành nhũ tương. Nhũ tương này, được gọi là nhũ tương hậu xử lý, có thể được pha loãng với nước trong quá trình thi công.

Loại sơn được pha chế bằng cách thêm một lượng nhỏ chất nhũ tương vào nhựa hòa tan trong nước không thể được gọi là sơn latex. Nói một cách chính xác, sơn pha loãng bằng nước không thể được gọi là sơn latex, nhưng theo quy ước, nó cũng được phân loại là sơn latex.
 
Ưu điểm và nhược điểm của sơn phủ gốc nước
 
1. Sử dụng nước làm dung môi giúp tiết kiệm rất nhiều tài nguyên. Nguy cơ cháy nổ trong quá trình thi công được tránh và ô nhiễm không khí được giảm thiểu. Chỉ sử dụng một lượng nhỏ dung môi hữu cơ ete rượu ít độc hại, giúp cải thiện điều kiện môi trường làm việc.
 
2. Dung môi hữu cơ trong các loại sơn gốc nước thông thường chiếm từ 10% đến 15%, nhưng trong các loại sơn điện di catốt hiện nay, hàm lượng dung môi đã giảm xuống dưới 1,2%, điều này có tác dụng rõ rệt trong việc giảm ô nhiễm và tiết kiệm tài nguyên.
 
3. Độ ổn định phân tán dưới tác động của lực cơ học mạnh tương đối kém. Khi vận tốc dòng chảy trong đường ống vận chuyển thay đổi mạnh, các hạt phân tán sẽ bị nén thành các hạt rắn, gây ra hiện tượng rỗ trên màng phủ. Do đó, cần đảm bảo đường ống vận chuyển có hình dạng tốt và thành ống không có khuyết tật.
 
4. Nó có tính ăn mòn cao đối với thiết bị phủ. Cần có lớp lót chống ăn mòn hoặc vật liệu thép không gỉ, và chi phí thiết bị tương đối cao. Sự ăn mòn và hòa tan kim loại của đường ống dẫn có thể gây ra hiện tượng lắng đọng và rỗ các hạt phân tán trên màng phủ, vì vậy ống thép không gỉ cũng được sử dụng.
 
Phương pháp hoàn thiện và thi công của các nhà sản xuất sơn
 
1. Điều chỉnh độ nhớt của sơn bằng nước sạch cho phù hợp để phun, sau đó đo độ nhớt bằng nhớt kế Tu-4. Độ nhớt phù hợp thường nằm trong khoảng từ 2 đến 30 giây. Nhà sản xuất sơn cho biết, nếu không có nhớt kế, có thể dùng phương pháp quan sát bằng mắt thường: dùng que sắt khuấy sơn, khuấy đến độ cao 20 cm rồi dừng lại để quan sát.
 
2. Áp suất khí nên được kiểm soát ở mức 0,3-0,4 MPa và 3-4 kgf/cm2. Nếu áp suất quá thấp, sơn sẽ không được phun sương tốt và bề mặt sẽ bị rỗ. Nếu áp suất quá cao, sơn dễ bị chảy xệ, và lượng sương sơn quá nhiều gây lãng phí vật liệu và ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân xây dựng.
 
3. Khoảng cách giữa vòi phun và bề mặt vật thể là 300-400 mm, nếu quá gần sẽ dễ bị chảy xệ. Nếu quá xa, lớp sơn phun sẽ không đều và dễ bị rỗ. Và nếu vòi phun quá xa bề mặt vật thể, sơn phun sẽ lan rộng trên đường đi, gây lãng phí. Nhà sản xuất sơn cho biết khoảng cách cụ thể có thể được xác định tùy thuộc vào loại sơn, độ nhớt và áp suất khí.
 
4. Súng phun sơn có thể di chuyển lên xuống, trái phải và hoạt động đều với tốc độ 10-12 m/phút. Súng nên được giữ thẳng và hướng trực tiếp vào bề mặt vật thể. Khi phun sơn cả hai mặt của vật thể, tay bóp cò súng phun sơn cần được thả nhanh chóng. Điều này sẽ giảm hiện tượng sơn bị mờ.

Thời gian đăng bài: 18/01/2024