Thuốc nhuộm là các hợp chất hữu cơ có màu, có khả năng nhuộm sợi hoặc các chất nền khác thành màu nhất định. Chúng chủ yếu được sử dụng trong nhuộm in sợi và vải, nhuộm da, nhuộm giấy, phụ gia thực phẩm và tạo màu cho nhựa. Theo tính chất và phương pháp ứng dụng, thuốc nhuộm có thể được chia thành các loại: thuốc nhuộm phân tán, thuốc nhuộm phản ứng, thuốc nhuộm sunfua, thuốc nhuộm VAT, thuốc nhuộm axit, thuốc nhuộm trực tiếp và các loại khác.
Thị trường lớn trong lịch sử chủ yếu liên quan đến giá thuốc nhuộm, và giá thuốc nhuộm thường tăng giảm theo giá nguyên liệu cũng như quan hệ cung cầu, có mùa cao điểm và mùa thấp điểm.
Ngành công nghiệp thượng nguồn của ngành sản xuất thuốc nhuộm là ngành hóa dầu, ngành hóa chất cơ bản và ngành hóa chất than. Nguyên liệu chính của thuốc nhuộm là benzen, naphtalen, anthracen, các hợp chất dị vòng, axit và kiềm vô cơ và các sản phẩm hóa học khác. Ngành công nghiệp hạ nguồn là ngành in và nhuộm trong ngành dệt may.
Các chất trung gian trong sản xuất thuốc nhuộm có thể được chia thành ba nhóm: nhóm benzen, nhóm naphtalen và nhóm anthracen dựa trên cấu trúc của chúng, trong đó các chất trung gian thuộc nhóm benzen được sử dụng rộng rãi. Trong số các chất trung gian benzen, m-phenylenediamine và chất khử là nguyên liệu quan trọng để tổng hợp thuốc nhuộm phân tán, còn para-ester là chất trung gian quan trọng của thuốc nhuộm hoạt tính. Trong đó, m-phenylenediamine cũng có thể được tổng hợp tiếp thành m-phenylenediamine (chủ yếu được sử dụng làm chất kết dính để tẩm dây lốp) và m-aminophenol (thuốc nhuộm nhạy nhiệt/áp suất).
(các chất trung gian). Các chất trung gian naphthalene, bao gồm axit H, là nguyên liệu thô cốt lõi để sản xuất thuốc nhuộm hoạt tính, chiếm 30-50% tổng chi phí. Ngoài ra, các chất trung gian để tổng hợp thuốc nhuộm anthraquinone chủ yếu là 1-amino-anthraquinone, thuộc hệ thống anthraquinone.
Phân tích năm lực lượng của Porter đối với ngành công nghiệp thuốc nhuộm: 1. Sức mạnh thương lượng của các nhà cung cấp thượng nguồn yếu. Các nhà cung cấp thượng nguồn của ngành công nghiệp thuốc nhuộm là benzen, naphtalen và các nhà cung cấp hàng hóa dầu mỏ và hóa dầu khác. Nhu cầu của ngành công nghiệp thuốc nhuộm đối với các hàng hóa dầu mỏ và hóa dầu gần như không đáng kể so với các ngành khác. Do đó, ngành công nghiệp thuốc nhuộm là bên hưởng lợi từ giá cả của các sản phẩm dầu mỏ và hóa dầu thượng nguồn.
2. Sức mạnh thương lượng lớn đối với khách hàng hạ nguồn. Khách hàng hạ nguồn của ngành công nghiệp nhuộm chủ yếu là các doanh nghiệp in ấn và nhuộm. Sức mạnh thương lượng lớn của ngành công nghiệp nhuộm đối với khách hàng hạ nguồn chủ yếu là do hai lý do. Thứ nhất, mức độ tập trung của ngành công nghiệp nhuộm rất thấp. Thứ hai, chi phí thuốc nhuộm trong ngành in ấn và nhuộm chiếm tỷ lệ tương đối nhỏ, do đó các doanh nghiệp in ấn và nhuộm dễ dàng chấp nhận việc giá thuốc nhuộm tăng lên.
3. Ít doanh nghiệp tiềm năng gia nhập ngành. Do công nghệ được cấp bằng sáng chế, nguyên liệu thô quan trọng và các yếu tố bảo vệ môi trường, ngành công nghiệp thuốc nhuộm có rào cản gia nhập cao, và việc mở rộng năng lực sản xuất bị hạn chế. Trong những năm gần đây, các cơ sở sản xuất nhỏ lạc hậu đã bị loại bỏ trong khi ít doanh nghiệp mới gia nhập. Do đó, mô hình tập trung cao trong ngành công nghiệp thuốc nhuộm sẽ tiếp tục duy trì trong tương lai.
4. Các sản phẩm thay thế ít gây ra mối đe dọa. Các tập đoàn thuốc nhuộm nước ngoài định vị sản phẩm cao cấp hoặc thuốc nhuộm đặc biệt không gây ra mối đe dọa cho ngành công nghiệp thuốc nhuộm trong nước. Thêm vào đó, do ảnh hưởng của thuế quan và cước vận chuyển, giá nhập khẩu tương đối cao. Do đó, các sản phẩm thay thế thuốc nhuộm ít gây ra mối đe dọa.
5. Mức độ cạnh tranh trong ngành ở mức trung bình. Sau quá trình hội nhập quy mô lớn của ngành từ năm 2009 đến năm 2010, số lượng doanh nghiệp đã giảm xuống còn hơn 300. Với sự tiếp tục深化 của cải cách phía cung quốc gia, mức độ tập trung của ngành công nghiệp thuốc nhuộm đã được cải thiện đáng kể. Năng lực sản xuất thuốc nhuộm phân tán trong nước chủ yếu tập trung ở Zhejiang Longsheng, Leap Soil Stock và Jihua Group, với tỷ lệ tập trung (CR3) khoảng 70%, trong khi năng lực sản xuất thuốc nhuộm hoạt tính cao hơn ở Zhejiang Longsheng, Leap Soil Stock, Hubei Chuyuan, Taixing Caragian và Anoki, với tỷ lệ tập trung (CR3) gần 50%.
Theo dõi cho thấy, việc thị trường quần áo trái mùa kéo dài đã trực tiếp đẩy giá thuốc nhuộm phân tán lên cao. Giá thuốc nhuộm đen phân tán ECT300% đã tăng 36% trong hai tháng qua.
Về mặt nhu cầu, do ảnh hưởng của dịch bệnh, nhiều doanh nghiệp dệt may xuất khẩu quy mô lớn ở Ấn Độ đã chuyển nhiều đơn đặt hàng sang sản xuất trong nước trong những tháng gần đây do không thể đảm bảo giao hàng bình thường vì dịch bệnh. Ngoài ra, sự kiện “Double 11” đang đến gần, các doanh nghiệp thương mại điện tử đặt hàng trước, dự trữ hàng hóa là chìa khóa để giành thị trường. Bên cạnh dự báo về “mùa đông lạnh giá” năm nay, ngành công nghiệp cho biết các doanh nghiệp dệt may hiện đang đặc biệt bận rộn. Nhu cầu về thuốc nhuộm nguyên liệu đầu vào cũng tăng mạnh để đáp ứng.
Về nguồn cung, tình hình nghiêm trọng về an toàn và bảo vệ môi trường ở Trung Quốc có thể kéo dài trong tương lai do ô nhiễm lớn gây ra bởi quá trình sản xuất thuốc nhuộm và các chất trung gian, và năng lực sản xuất không đạt tiêu chuẩn an toàn và bảo vệ môi trường cũng như năng lực sản xuất kém hiệu quả sẽ dần bị loại bỏ. Công ty chứng khoán Guoxin cho biết, các doanh nghiệp sản xuất thuốc nhuộm phân tán quy mô nhỏ có sản lượng hạn chế, tình hình hiện tại thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực thuốc nhuộm.
Thời gian đăng bài: 12/11/2020




