Ngành công nghiệp hóa chất tinh chế bao gồm các vật liệu mới, vật liệu chức năng, dược phẩm và chất trung gian dược phẩm, thuốc trừ sâu và chất trung gian thuốc trừ sâu, phụ gia thực phẩm, phụ gia đồ uống, hương liệu, chất tạo màu, mỹ phẩm và các ngành công nghiệp hóa chất tiêu dùng hàng ngày, đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Mỗi ngành đều có những đặc điểm riêng. Hiểu và nắm vững các đặc điểm của ngành công nghiệp hóa chất tinh chế là nền tảng cho sự phát triển an toàn và lành mạnh của ngành, và là chìa khóa để các doanh nghiệp thực hiện phân tích và kiểm soát rủi ro trong quá trình hóa học và nâng cao an toàn thiết yếu của doanh nghiệp.
1. Các nguyên liệu được sử dụng trong quy trình sản xuất hóa chất tinh chế rất độc hại. Phần lớn các nguyên liệu thuộc loại A, B, A, có độc tính cao, ăn mòn mạnh, dễ cháy, và tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ, ngộ độc, v.v. Ngoài ra, quy trình vận hành có “hơn bốn” giai đoạn, tức là có nhiều loại nguyên liệu đi vào lò phản ứng (chất phản ứng, sản phẩm, dung dịch, chất chiết xuất, v.v.), nhiều trạng thái pha (khí, lỏng, rắn), nhiều lần mở thiết bị để cấp liệu và nhiều lần mở thiết bị để lấy mẫu trong quá trình sản xuất.
2. Hệ thống điều khiển tự động chưa được sử dụng tốt và không thể thực hiện hoàn toàn việc điều khiển tự động. Mặc dù doanh nghiệp đã thiết lập các khóa liên động theo yêu cầu kiểm soát an toàn của quy trình hóa chất nguy hiểm dưới sự giám sát chính, nhưng vẫn có nhiều thao tác cấp liệu thủ công trong quá trình vận hành, và lỗ cấp liệu cần phải được mở khi cấp liệu. Khả năng làm kín kém, và các vật liệu độc hại dễ bay hơi ra khỏi nồi phản ứng. Việc lựa chọn thiết bị điều khiển không hợp lý, người vận hành không muốn sử dụng hoặc không thể sử dụng, khiến hệ thống điều khiển tự động trở nên vô dụng; Van khóa liên động của hệ thống làm mát lò phản ứng thường ở trạng thái bỏ qua, dẫn đến sự tuần hoàn lẫn nhau giữa nước lạnh, nước làm mát và hơi nước. Thiếu nhân lực vận hành thiết bị, thiếu quản lý hệ thống điều khiển tự động, thiết lập giá trị cảnh báo và khóa liên động không hợp lý, hoặc thay đổi giá trị cảnh báo và khóa liên động một cách tùy tiện, người vận hành bỏ qua tầm quan trọng của việc điều khiển cảnh báo và khóa liên động.
3. Chế độ sản xuất gián đoạn chiếm đa số. Một nồi phản ứng được sử dụng cho nhiều mục đích. Một thiết bị phải hoàn thành nhiều công đoạn, chẳng hạn như phản ứng (nhiều lần), chiết xuất, rửa, phân lớp, chưng cất, v.v. Có những yêu cầu nghiêm ngặt về trình tự thực hiện và thời gian của các bước vận hành, nhưng thường thiếu sự kiểm soát hiệu quả. Vận hành và sản xuất giống như nấu ăn của đầu bếp, tất cả đều dựa trên kinh nghiệm. Sau khi phản ứng của một nồi, hạ nhiệt độ, xả nguyên liệu và trộn lại để tiếp tục phản ứng. Hầu hết việc xả và dỡ hàng sử dụng băng tải và thao tác thủ công, điều này sẽ dẫn đến tai nạn do thao tác sai của con người trong quá trình này. Trong quá trình sản xuất phản ứng hóa chất tinh chế, một lượng lớn chất lỏng dễ cháy có điểm chớp cháy thấp như metanol và axeton thường được thêm vào làm dung môi. Sự hiện diện của các dung môi hữu cơ dễ cháy làm tăng nguy cơ của quá trình phản ứng.
4. Quy trình thay đổi nhanh chóng và có nhiều bước phản ứng. Có hiện tượng nghiên cứu và phát triển, sản xuất, nâng cấp sản phẩm và thay thế nhanh chóng; một số quy trình nguy hiểm được chia thành nhiều giai đoạn phản ứng. Cần mở lỗ cấp liệu ngay từ đầu quá trình cấp liệu. Khi phản ứng đạt đến một mức độ nhất định, cần đóng lỗ cấp liệu lại.
5. Do tính chất bảo mật kỹ thuật, việc đào tạo về vận hành quy trình còn hạn chế. Điều này dẫn đến kỹ thuật vận hành đa dạng, hình thành nên câu nói “mỗi làng có một chiêu thức riêng, mỗi người có một tài năng riêng”. Ngành công nghiệp hóa chất tinh chế có nhiều hệ lụy. Do đào tạo không đầy đủ và kiểm soát thông số vận hành không ổn định, lượng chất thải rắn và chất thải lỏng tồn đọng lớn, khiến kho chứa chất thải nguy hại trở thành điểm rủi ro cần được kiểm soát chặt chẽ.
6. Cập nhật thiết bị nhanh chóng. Sự ăn mòn thiết bị nghiêm trọng do tính chất của vật liệu sử dụng; nhiệt độ và áp suất hoạt động thay đổi đột ngột (trong lò phản ứng có ba môi chất trao đổi nhiệt, đó là nước đá, nước làm mát và hơi nước. Thông thường, quá trình sản xuất có thể thay đổi từ -15 ℃ đến 120 ℃. Quá trình chưng cất tinh (chưng cất) gần với chân không tuyệt đối và có thể đạt đến 0,3 MPaG trong quá trình nén), và các khâu quản lý và bảo trì thiết bị yếu, dẫn đến nhiều thao tác đặc biệt hơn.
7. Bố trí mặt bằng của các doanh nghiệp hóa chất tinh chế phần lớn không hợp lý. Việc lắp đặt, khu chứa bể và kho không được sắp xếp theo nguyên tắc “quy hoạch thống nhất, thực hiện từng bước” trong ngành hóa chất. Các doanh nghiệp hóa chất tinh chế chủ yếu dựa vào thị trường hoặc thiết bị, máy móc xây dựng sản phẩm, sử dụng không gian nhà máy hiện có để bố trí, dẫn đến sự lộn xộn trong bố trí nhà máy, không xem xét đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ sức khỏe và môi trường, không dựa theo đặc điểm địa hình của nhà máy, đặc điểm kỹ thuật sản xuất hóa chất và chức năng của các loại công trình, bố trí không hợp lý, gây ra sự phân chia chức năng không hợp lý, quy trình không thông suốt, không có lợi cho sản xuất, không thuận tiện cho quản lý.
8. Các hệ thống xả an toàn thường được thiết kế một cách tùy tiện. Nguy cơ cháy nổ sau khi xả các vật liệu nguy hiểm dễ cháy nổ rất dễ xảy ra do phản ứng hóa học hoặc sự hình thành hỗn hợp dễ nổ trong cùng một hệ thống xử lý. Tuy nhiên, doanh nghiệp hiếm khi đánh giá và phân tích rủi ro này.
9. Bố trí thiết bị bên trong nhà máy khá chật hẹp, trong khi có nhiều thiết bị bên ngoài. Công nhân trong xưởng làm việc tập trung khá đông, thậm chí phòng vận hành và bàn ghi chép cũng được đặt trong xưởng. Nếu xảy ra tai nạn, rất dễ gây ra thương vong hàng loạt. Các quy trình nguy hiểm chủ yếu liên quan đến phản ứng sunfon hóa, clo hóa, oxy hóa, hydro hóa, nitrat hóa và flo hóa. Đặc biệt, các quy trình clo hóa, nitrat hóa, oxy hóa và hydro hóa có rủi ro cao. Nếu mất kiểm soát, chúng sẽ gây ra nguy cơ ngộ độc và cháy nổ. Do yêu cầu về không gian, các doanh nghiệp không xây dựng khu chứa bể chứa mà lại bố trí nhiều bể chứa trung gian và hệ thống xử lý khí thải bên ngoài nhà máy, điều này dễ gây ra cháy nổ thứ cấp.
10. Tỷ lệ luân chuyển nhân viên nhanh và chất lượng tương đối thấp. Một số doanh nghiệp không chú trọng đến việc bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp, môi trường làm việc kém, nhân sự di chuyển không thường xuyên. Nhiều nhân viên doanh nghiệp “bỏ cuốc mà trở thành công nhân”, chưa kể trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên, tốt nghiệp trung học cơ sở đã rất hiếm. Trong những năm gần đây, một số doanh nghiệp không chú trọng đến quản lý an toàn và bảo vệ môi trường, dẫn đến tai nạn thường xuyên, người ta có cảm giác “ma hóa” ngành công nghiệp hóa chất tinh chế, đặc biệt là ngành công nghiệp hóa chất tinh chế tư nhân, sinh viên tốt nghiệp cao đẳng và trung học kỹ thuật ngại tham gia ngành này, điều này cản trở sự phát triển an toàn của ngành.
Ngành công nghiệp hóa chất tinh chế có mối liên hệ mật thiết với cuộc sống con người. Nếu thiếu ngành công nghiệp hóa chất tinh chế, cuộc sống của chúng ta sẽ mất đi màu sắc. Chúng ta cần quan tâm, hỗ trợ và định hướng sự phát triển an toàn và lành mạnh của ngành công nghiệp hóa chất tinh chế.
Thời gian đăng bài: 30 tháng 10 năm 2020




