tin tức

Whatsapp/wechat: +86 13805212761

https://www.mit-ivy.com

Công ty công nghiệp MIT-Ivy
CEO@mit-ivy.com
Chào, tôi là Athena, CEO của công ty MIT-Ivy Industry chuyên về hóa chất tại Trung Quốc.

Các doanh nghiệp sản xuất hóa chất hữu cơ (bao gồm cả thuốc nhuộm) ở Giang Tô, theo nhu cầu riêng của mình, đã sản xuất các sản phẩm trung gian hỗ trợ thuốc nhuộm (bao gồm cả thuốc trừ sâu). Vào những năm 1948, Nhà máy Hóa chất Nam Kinh đã sản xuất thử nghiệm dinitrophenol, sản phẩm trung gian đầu tiên của tỉnh, nhưng sau đó đã ngừng xây dựng và sản xuất do nhu cầu cấp thiết của chiến tranh. Sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may nhẹ, từ "Kế hoạch 5 năm lần thứ hai", sản xuất thuốc nhuộm cũng đã phát triển. Đến cuối năm 1987, các sản phẩm trung gian đã hình thành ba dòng sản phẩm chính: naphthalene, benzene và anthracene.

Nhà máy sản xuất methyl naphthalene amine, thuộc hệ thống naphthalene, được đưa vào sản xuất năm 1962, với sản lượng hàng tháng khoảng 10 tấn. Năm 1964, xưởng sản xuất được di dời, quy trình được cải tiến, điều kiện vận hành được thay đổi, và sản lượng hàng năm tăng lên 500 tấn. Tháng 7 năm 1973, methyl naphthalene amine được đầu tư 138.300.000 nhân dân tệ, là dự án đầu tiên tại Trung Quốc chuyển đổi quy trình chưng cất gián đoạn sang chưng cất liên tục, nhờ đó sản lượng hàng năm tăng lên 1000 tấn, và quy trình này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Năm 1979, nhà máy lại tiếp tục cải tiến thiết bị, mở rộng diện tích làm mát, điều chỉnh tháp đóng gói phía hạ lưu của thiết bị hấp, nhờ đó chất lượng sản phẩm được cải thiện đáng kể. Năm 1983, methyl naphthalene amine trở thành sản phẩm thứ ba trong lịch sử nhà máy đạt lợi nhuận hàng năm một triệu nhân dân tệ. Năm 1985, methyl naphthalene amine được đánh giá là sản phẩm chất lượng cao tại tỉnh Giang Tô. Năm 1987, nhà máy tự huy động 570.000 nhân dân tệ vốn đầu tư, tiếp tục mở rộng sản xuất và chế biến, sản lượng cuối năm đạt 2.706 tấn, tổng sản lượng đạt 25.715 tấn. Methylnaphthylamine được xuất khẩu từ năm 1981, đến cuối năm 1987, tổng lượng xuất khẩu đạt 1.343 tấn, là sản lượng độc quyền theo kế hoạch của tỉnh. Ngoài methylnaphthylamine, nhà máy trước đây còn sản xuất methylnaphthol (khi Nhà máy Thuốc trừ sâu Trường Châu được thành lập năm 1971, việc sản xuất này được giao cho Nhà máy Thuốc trừ sâu Trường Châu). Năm 1972, nhà máy sản xuất ethylnaphthol, nhưng đã ngừng sản xuất vào năm 1980 do điều chỉnh sản phẩm.

Ngoài ra, Nhà máy Hóa chất Nam Kinh đã đưa vào sản xuất axit Tucson và axit J lần lượt vào năm 1959 và 1960, và phát triển ethylnaphthol vào năm 1965 và methylnaphthol vào năm 1984. Nhà máy Thuốc nhuộm Tô Châu đã đưa vào sản xuất thử nghiệm axit nivenic và axit L vào năm 1965. Nhà máy Hóa chất Đông Phong thuộc huyện Vũ Giang đã sản xuất tollibex vào năm 1970. Từ năm 1979, Nhà máy Hóa chất huyện Rudong đã sản xuất thử nghiệm các sản phẩm mới như axit H, ethyl naphthol, muối amino C, muối R, v.v. Năm 1985, nhà máy đã tự bỏ ra 3 triệu nhân dân tệ để nâng cao công suất sản xuất hàng năm lên 4.000 tấn, và năm 1987, muối R được công nhận là sản phẩm chất lượng cấp tỉnh Giang Tô. Năm 1987, xuất khẩu các sản phẩm trung gian thuốc nhuộm của Nhà máy Hóa chất huyện Rudong đạt 2,4 triệu đô la Mỹ.

Hệ thống benzen. Có nhiều loại chất trung gian như vậy, chủ yếu được sản xuất bởi Nhà máy Hóa chất Nam Kinh, một số trong đó được mô tả trong chương “công nghiệp hóa chất hữu cơ” của tạp chí này.

Sản phẩm đầu tiên trong hệ thống benzen là dinitrophenol, được sản xuất bởi Nhà máy Hóa chất Nam Kinh, tiền thân của Nhà máy Hóa chất Trung ương thời Cộng hòa Trung Hoa, sau 37 năm kể từ khi Nhà máy Kinh tiến hành sản xuất thử nghiệm 10 tấn. Vào tháng 7 năm 1938, Nhà máy Hóa chất Nam Kinh đã thành công trong việc sản xuất thử nghiệm dinitroclorobenzen, với sản lượng 1 tấn trong tháng đó. Dinitroclorobenzen là nguyên liệu chính để sản xuất nguyên tố sunfua, chủ yếu được nhập khẩu từ Hoa Kỳ vào thời điểm đó. Để phá vỡ lệnh cấm vận kinh tế của Mỹ và duy trì hoạt động của nhà máy, Nhà máy Hóa chất Nam Kinh, trong điều kiện vốn, thiết bị và công nghệ vô cùng khó khăn, đã dựa vào sức lao động của công nhân khuấy nguyên liệu bằng que gỗ và các phương pháp truyền thống khác, nhờ đó sản lượng dinitroclorobenzen đạt 15,5 tấn trong năm đó. Năm 1951, nhà nước đầu tư 1,8 tỷ nhân dân tệ (tương đương 180.000 nhân dân tệ) vào nhà máy, xây dựng thiết bị sản xuất dinitro, và áp dụng công nghệ do công nhân sáng tạo. Tháng 7 năm 1956, nhà máy “amino” của nhà máy hoàn thành, đưa vào sản xuất 10 loại sản phẩm như p-aminophenol. Năm 1959, sản lượng dinitro amoni hóa benzen đạt 1885 tấn. Sau 3 năm điều chỉnh kinh tế, cùng với sự thay đổi chủng loại thuốc nhuộm, nhà máy lần lượt phát triển các chất trung gian khác thuộc dòng benzen. Cuối những năm 70, với sự điều chỉnh sản phẩm thuốc nhuộm lưu huỳnh, sản lượng dinitrochlorobenzen giảm dần theo từng năm, và chỉ sản xuất được 667 tấn vào năm 1987. Ngược lại, sự phát triển của anilin vào năm 1958 là nhờ sự phát triển của thuốc nhuộm phân tán và các sản phẩm sản xuất và tiêu thụ khác, và sản lượng đạt 5971 tấn vào năm 1987.

Ngoài việc sản xuất các chất trung gian thuộc dòng benzen tại Nhà máy Hóa chất Nam Kinh, Nhà máy Thuốc nhuộm Vô Tích còn đưa vào sản xuất dinitroclorua benzen (tự phối màu) năm 1963, p-nitroanilin và p-nitroclorua benzen năm 1966, và axit phenyl peridothenic và hexachloroanthraquinone năm 1973; Nhà máy Thuốc nhuộm Nam Kinh sản xuất thử nghiệm p-aminophenol năm 1966; Nhà máy Phụ trợ Trường Châu đưa vào sản xuất diphenylamin năm 1966; Nhà máy Hóa chất Rudong sản xuất thử nghiệm hydroquinone năm 1974; Nhà máy Hóa chất Trường Châu sản xuất thử nghiệm hydroquinone năm 1974. Năm 1976, Cục Công nghiệp Hóa chất và Đốt cháy tỉnh đã đầu tư 1,9 triệu nhân dân tệ vào Nhà máy Thuốc nhuộm Vô Tích để mở rộng năng lực sản xuất hàng năm của axit phenyl peri và xây dựng một nhà máy sản xuất axit peri gốc toluen mới với công suất 100 tấn. Bộ Công nghiệp Hóa chất và Cục Công nghiệp Hóa chất và Đốt cháy tỉnh đã đầu tư 4,18 triệu nhân dân tệ để xây dựng nhà máy sản xuất mononitrotoluene với công suất hàng năm là 3.000 tấn tại Giang Tô.

Hệ thống anthracene Các chất trung gian anthracene chủ yếu được sử dụng làm nguyên liệu thô để sản xuất thuốc nhuộm khử. Năm 1972, Nhà máy Nhuộm và Hóa chất Từ Châu bắt đầu sản xuất quinone không tan clo hóa, và năm 1976, nhà máy này sản xuất thử nghiệm 1-amino quinone không tan; năm 1975, Nhà máy Nhuộm Trường Châu xây dựng một nhà máy sản xuất thuốc nhuộm khử mới và đưa vào sản xuất 1,4-diamino anthraquinone, 1-chloro anthraquinone và các sản phẩm khác; Nhà máy Nhuộm Vô Tích cũng có các sản phẩm thuộc dòng anthracene để hỗ trợ sản xuất thuốc nhuộm trong nhà máy. Cho đến năm 1987, do sự thay đổi cơ cấu sản phẩm thuốc nhuộm, sản lượng các sản phẩm thuộc dòng anthracene chỉ đạt 338 tấn, trong đó 120 tấn được xuất khẩu.

Thống kê sản lượng thuốc nhuộm tỉnh Giang Tô từ năm 1955 đến năm 1977.

Hee9545892f2742f99c7d43a7c3af58203.jpg_350x350


Thời gian đăng bài: 25/12/2020